Xét Nghiệm Máu,Xét Nghiệm ADN, Xét Nghiệm HIV, Dấu hiệu nhận biết và điều trị sốc sốt huyết Dengue

Dấu hiệu nhận biết và điều trị sốc sốt huyết Dengue

Dấu hiệu nhận biết và điều trị sốc sốt huyết Dengue

  • admin
  • 03/12/2020
  • 7 Views

Sốt xuất huyết Dengue là một căn bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus Dengue gây ra. Căn bệnh lây truyền qua đường máu, thông qua trung gian truyền bệnh là muỗi Aedes aegypti. Bệnh có biểu hiện chính là sốt kèm theo xuất huyết ở da hoặc niêm mạc, biểu hiện nặng nhất của căn bệnh này là hội chứng sốc dengue.

1. Sốt xuất huyết Dengue là gì?

Sốt xuất huyết Dengue hay thường được gọi là sốt xuất huyết là một căn bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus Dengue gây ra. Căn bệnh lây truyền qua đường máu, trong đó trung gian truyền bệnh là muỗi Aedes aegypti.

Bệnh sốt xuất huyết có biểu hiện chính là sốt kèm theo xuất huyết ở da hoặc niêm mạc gây giảm tiểu cầu. Biểu hiện nặng nhất của căn bệnh này đó là hội chứng sốc dengue.

2. Dấu hiệu nhận biết sốc sốt xuất huyết Dengue

Trong giai đoạn đầu của bệnh, bệnh nhân sẽ có các biểu hiện chung như là:

  • Sốt cao liên tục
  • Đau nhức đầu, chán ăn, buồn nôn
  • Đau cơ, đau khớp
  • Nhức hai hố mắt
  • Xuất huyết dưới da, chảy máu cam hoặc chảy máu chân răng

Nếu bệnh nhân không được chẩn đoán và điều trị kịp thời có thể dẫn tới tình trạng thoát huyết tương nặng dẫn đến tình trạng sốc giảm thể tích gây sốc sốt xuất huyết Dengue. Lúc này, bệnh nhân sẽ có các biểu hiện sau đây:

  • Suy tuần hoàn cấp: bệnh nhân có biểu hiện vật vã, li bì hoặc bứt rứt, bàn chân, bàn tay lạnh, da lạnh ẩm, mạch nhanh nhỏ, huyết áp kẹt (huyết áp tối đa trừ huyết áp tối thiểu ≤ 20 mmHg) thậm chí bệnh nhân có thể bị tụt huyết áp hoặc không đo được huyết áp; đi tiểu ít. Tình trạng này thường xảy ra vào ngày thứ 3 – 7 của bệnh.
  • Sốc sốt huyết huyết Dengue được chia thành 2 mức độ sau:
  • Sốc sốt xuất huyết Dengue với biểu hiện suy tuần hoàn, mạch nhanh nhỏ, huyết áp tụt hoặc kẹt, kèm theo các triệu chứng khác như da lạnh ẩm, bứt rứt, vật vã hoặc li bì.
  • Sốc sốt xuất huyết Dengue nặng: bệnh nhân có biểu hiện sốc nặng, mạch nhỏ khó bắt, không đo được huyết áp.
Sơ cứu đúng khi bị chảy máu cam
Người bệnh sốc sốt xuất huyết Dengue có thể gặp tình trạng chảy máu cam

Lưu ý: trong quá trình diễn biến của bệnh, bệnh nhân có thể chuyển từ mức độ nhẹ sang mức độ nặng. Chính vì vậy, bệnh nhân cần được theo dõi, đánh giá phân độ để tiên lượng và có hướng xử trí kịp thời.

3. Điều trị sốc sốt xuất huyết Dengue

Điều trị sốc sốt xuất huyết Dengue dựa vào mức độ sốc của bệnh nhân là nhẹ hay nặng.

3.1. Điều trị sốc sốt xuất huyết Dengue

Bệnh nhân sốc sốt xuất huyết Dengue cần được truyền dịch phù hợp, các loại dịch truyền cần chuẩn bị trong trường hợp này đó là:

  • Ringer lactat
  • NaCl 0,9%
  • Dung dịch cao phân tử: Dextran 40 hoặc 70, Hydroxyethyl starch.

Cách tiến hành truyền dịch:

  • Cần nhanh chóng thay thế lượng huyết thanh mất đi bằng dung dịch Ringer lactat hoặc dung dịch NaCl 0,9%. Tiến hành truyền tĩnh mạch nhanh với tốc độ từ 15 – 20 ml/kg/giờ.
  • Sau khi truyền dịch 1 giờ, 2 giờ cần phải đánh giá lại tình trạng của bệnh nhân, kiểm tra chỉ số Hematocrit.
  • Sau 1 giờ, nếu bệnh nhân hết tình trạng sốc, huyết áp không kẹt, mạch rõ và trở về bình thường, chân tay ấm, nước tiểu nhiều hơn, cần giảm tốc độ truyền dịch xuống 10ml/kg/giờ, truyền tiếp trong 1- 2 giờ. Sau đó giảm dần tốc độ truyền dịch xuống 7,5ml/kg/giờ truyền tiếp trong 1 – 2 giờ tiếp theo. Sau đó giảm xuống tốc độ 5ml/kg/giờ truyền trong 4 – 5 giờ, đến 3 ml/kg/giờ truyền 4 – 6 giờ tùy theo tình trạng của bệnh nhân.
  • Sau 1 giờ, nếu tình trạng của bệnh nhân không cải thiện, cần phải thay thế dịch truyền bằng dung dịch cao phân tử, truyền với tốc độ 15 – 20ml/kg/giờ, truyền trong 1 giờ. Sau đó tiếp tục đánh giá lại tình trạng bệnh nhân:
  • Nếu tình trạng của bệnh nhân được cải thiện, chỉ số hematocrit giảm, thì giảm tốc độ truyền dịch xuống 10ml/kg/giờ, truyền trong 1 – 2 giờ. Sau đó tình trạng bệnh nhân được cải thiện, tiếp tục giảm tốc truyền dịch xuống 7,5ml/kg/giờ, tiếp đến là 5ml/kg/giờ, truyền trong 2 – 3 giờ. Theo dõi sát tình trạng của bệnh nhân, nếu ổn định có thể chuyển sang truyền dung dịch điện giải.
  • Nếu tình trạng sốc của bệnh nhân vẫn chưa được cải thiện, cần tiến hành đo áp lực tĩnh mạch trung tâm (CVP) để quyết định cách xử trí.

Nếu tình trạng sốc của bệnh nhân không cải thiện, chỉ số hematocrit giảm xuống nhanh thì cần phải kiểm tra xem có xuất huyết nội tạng hay không và xem xét chỉ định truyền máu với tốc độ 10ml/kg/giờ.

truyền dịch
Bệnh nhân sốc sốt xuất huyết Dengue cần được truyền dịch phù hợp

Chú ý: việc thay đổi tốc độ truyền dịch phải dựa vào mạch, huyết áp, lượng nước tiểu, tình trạng tim phổi, chỉ số hematocrit và chỉ số CVP trong 1 – 2 giờ một lần.

3.2. Điều trị sốc sốt xuất huyết Dengue nặng

Trong trường hợp bệnh nhân vào viện trong tình trạng sốc nặng, huyết áp không đo được, mạch ở tay không bắt được thì cần phải điều trị rất khẩn trương.

  • Cho bệnh nhân nằm đầu thấp
  • Thở oxy
  • Truyền dịch:

Với bệnh nhân dưới 15 tuổi: dùng bơm tiêm to, bơm dung dịch Ringer lactat hoặc dung dịch NaCl 0,9% vào tĩnh mạch với tốc độ 20ml/kg trong vòng 15 phút. Sau đó đánh giá lại tình trạng bệnh nhân, có 3 khả năng sau đây có thể xảy ra:

+ Nếu mạch rõ, huyết áp không kẹt nữa, sử dụng dung dịch cao phân tử với tốc độ truyền 10ml/kg/giờ.

+ Nếu mạch nhanh, huyết áp kẹt hoặc tụt: cần truyền dung dịch cao phân tử với tốc độ 15 – 20ml/kg/giờ sau đó xử trí như phần điều trị sốc sốt xuất huyết Dengue ở trên.

+ Nếu mạch không có và huyết áp vẫn không đo được, cần bơm trực tiếp vào tĩnh mạch dung dịch cao phân tử với tốc độ 20ml/kg trong 15 phút. Sau đó, nếu huyết áp và mạch rõ, truyền dung dịch cao phân tử với tốc độ 15 – 20ml/kg/giờ, sau đó tiếp tục xử trí theo điều trị sốc sốt xuất huyết ở trên.

Những lưu ý khi truyền dịch cho bệnh nhân sốc sốt xuất huyết:

  • Ngừng truyền dịch tĩnh mạch khi huyết áp và mạch của bệnh nhân trở về bình thường, tiểu nhiều. Nói chung sau khi hết sốc 24 giờ không cần thiết bù dịch nữa.
  • Trong quá trình truyền dịch cần chú ý đến sự tái hấp thu huyết tương từ ngoài lòng mạch trở lại lòng mạch thông qua biểu hiện bằng huyết áp, mạch bình thường và hematocrit giảm.
  • Cần theo dõi triệu chứng phù phổi cấp nếu còn tiếp tục truyền dịch. Khi bệnh nhân có biểu hiện của hiện tượng bù dịch quá tải gây suy tim hoặc phù phổi cấp cần phải dùng thuốc lợi tiểu như Furosemid 0,5-1 mg/kg/1 lần tiêm/truyền tĩnh mạch.
  • Trong trường hợp sau khi sốc hồi phục mà huyết áp kẹt nhưng chân tay bệnh nhân ấm, mạch chậm, rõ, tiểu nhiều thì không truyền dịch, nhưng vẫn lưu kim tiêm tĩnh mạch và theo dõi tại phòng cấp cứu.
  • Đối với bệnh nhân đến trong tình trạng sốc, đã được chống sốc từ tuyến trước thì điều trị như một trường hợp không cải thiện (tái sốc). Cần lưu ý đến số lượng dịch đã được truyền từ tuyến trước (kiểm tra hồ sơ bệnh án) để tính toán lượng dịch sắp truyền cho bệnh nhân.
  • Nếu bệnh nhân là người lớn và có biểu hiện tái sốc, chỉ dùng dung dịch cao phân tử Dextran 40 không quá 1.000 ml và không quá 500 ml đối với Dextran 70. Nếu bệnh nhân diễn biến xấu, nên tiến hành:

+ Đo chỉ số CVP để bù dịch theo CVP hoặc dùng vận mạch nếu CVP cao.

+ Theo dõi sát mạch, huyết áp, nhịp thở, da, niêm mạc của bệnh nhân, tìm xuất huyết nội tạng để chỉ định truyền máu kịp thời.

+ Cần thận trọng khi tiến hành thủ thuật tại các vị trí khó cầm máu như tĩnh mạch dưới đòn, tĩnh mạch cổ.

  • Nếu huyết áp kẹt, đặc biệt là sau một thời gian đã trở lại bình thường cần phân biệt các nguyên nhân sau:

+ Hạ đường huyết

+ Tái sốc do không bù đủ lượng dịch tiếp tục thoát ra khỏi mạch

+ Xuất huyết nội tạng

+ Quá tải do tái hấp thu hoặc do truyền dịch quá nhiều

  • Khi điều trị sốc, cần phải chú ý đến điều chỉnh rối loạn điện giải và thăng bằng kiềm toan:

+ Hạ natri máu thường xảy ra ở hầu hết các trường hợp sốc nặng kéo dài và đôi khi có toan chuyển hóa. Do đó cần phải xác định mức độ rối loạn điện giải và nếu có điều kiện thì đo các các chỉ số khí máu ở người bệnh sốc nặng và người bệnh sốc không đáp ứng nhanh chóng với điều trị.

Tiêm thuốc
Điều trị sốc sốt xuất huyết Dengue nặng cần tuân thủ theo đúng phác đồ điều trị

3.3. Xử trí sốc sốt xuất huyết kèm theo xuất huyết

  • Tiếp tục chống sốc cho bệnh nhân bằng dung dịch điện giải (trong khi chờ có hồng cầu lắng).
  • Truyền hồng cầu lắng với tốc độ 5-10ml/kg.
  • Điều chỉnh rối loạn đông máu.
  • Xử trí cầm máu: băng ép tại chỗ, nhét meche mũi trước/sau, nội soi can thiệp cầm máu dạ dày, tá tràng,…
  • Xem xét sử dụng thuốc ức chế bơm proton nếu bệnh nhân có biểu hiện gợi ý xuất huyết tiêu hoá trên hoặc có tiền sử viêm loét dạ dày tá tràng.
  • Nếu bệnh nhân có biểu hiện suy gan nặng xem xét sử dụng Vitamin K.

Sốt xuất huyết hiện nay chưa có thuốc điều trị, phương pháp điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng, khi bệnh sốt xuất huyết ở người lớn thuộc thể nhẹ thì có thể chăm sóc tại nhà, cho bệnh nhân nghỉ ngơi và uống nhiều nước, sử dụng các món ăn mềm và có nước, dễ tiêu hóa, hạ sốt với Paracetamol, lau mát khi sốt cao. Người bệnh cần tuân thủ tuyệt đối theo hướng dẫn của bác sĩ, tự theo dõi sát tại nhà, có thể đến bệnh viện thực hiện các xét nghiệm cần thiết (nếu có thể).