Xét Nghiệm Máu,Xét Nghiệm ADN, Xét Nghiệm HIV, Các bước khám lâm sàng tuyến giáp

Các bước khám lâm sàng tuyến giáp

Các bước khám lâm sàng tuyến giáp

  • admin
  • 06/01/2021
  • 2 Views

Tuyến giáp là một tuyến thuộc hệ nội tiết của cơ thể, nằm ở phía trước cổ, sản xuất hormone hỗ trợ chức năng hoạt động của các cơ quan khác.

1. Tuyến giáp có vai trò gì?

Tuyến giáp sản xuất hormone nội tiết vào máu giúp ổn định các chức năng hoạt động của các bộ phận khác trong cơ thể. Khi tuyến giáp sản xuất quá nhiều hormone vào máu sẽ gây bệnh cường giáp.

Ngược lại, khi tuyến giáp tiết quá ít hormone vào máu sẽ gây ra bệnh suy giáp. Tuyến giáp trữ > 90% lượng Iod cơ thể, hormone giáp làm tăng chuyển hóa cơ bản, chuyển hóa lipid, chuyển hóa protid…

Bệnh tuyến giáp là bệnh phổ biến nhất trong các bệnh nội tiết. Bướu giáp xảy ra ở 10% nữ giới, 2% nam giới, gây mất thẩm mỹ, khó khăn trong sinh hoạt nếu bướu lành tính.

Ngược lại, bướu ác tính có thể đe dọa tính mạng của bệnh nhân. Do đó, chúng ta nên thường xuyên theo dõi sức khỏe tuyến giáp thông qua các bước khám tuyến giáp định kỳ để phòng ngừa những căn bệnh nguy hiểm, khó điều trị (suy giáp, cường giáp, bướu giáp, ung thư giáp, viêm tuyến giáp…).

2. Mục tiêu của việc khám lâm sàng tuyến giáp

  • Xác định được bướu tuyến giáp, phân biệt với các khối u khác ở vùng trước cổ.
  • Xác định đặc tính của bướu tuyến giáp: Bướu to lan tỏa, bướu có nhân, mật độ, đặc điểm di động, nhạy với cảm giác đau.
  • Khám hạch ở các vùng có liên quan đến bướu giáp.
  • Thực hiện nghiệm pháp Pemberton.
Hình ảnh bướu nhân lạnh thùy trái tuyến giáp
Việc khám lâm sàng tuyến giáp giúp xác định kích thước, một độ của bướu

3. Chuẩn bị trước khi khám tuyến giáp

Bệnh nhân được giải thích những điều cần biết khi thăm khám để bệnh nhân hợp tác. Bệnh nhân được yêu bộc lộ vùng cổ (nếu áo có cổ cao):

  • Tư thế bệnh nhân: Người bệnh ngồi thoải mái trên ghế thấp (thăm khám với thủ thuật nhìn, sờ) và bệnh nhân nằm ngửa (trong cách nghe tuyến giáp). Riêng nghiệm pháp Pemberton thì bệnh nhân sẽ đứng hoặc ngồi. Ngoài ra, người bệnh có 1 ly nước nhỏ để uống giúp quan sát bướu giáp di chuyển theo nhịp nuốt.
  • Tư thế bác sĩ: Đứng sau bệnh nhân hoặc đối diện bệnh nhân, 2 bàn tay của người khám bệnh và ống nghe phải ấm.

4. Các bước khám lâm sàng tuyến giáp

  • Nhìn và quan sát vùng cổ
  • Sờ nắn bướu giáp
  • Khám và phát hiện các hạch
  • Nghe âm thổi vùng bướu giáp ở 2 tư thế nằm và ngồi
  • Nghiệm pháp Pemberton (nếu có chỉ định)

4.1 Nhìn bướu giáp

4.1.1 Mục đích

Nhận biết bướu giáp có tính chất di động theo nhịp nuốt, phân biệt với các u khác như: hạch cạnh cơ ức đòn chũm, phì đại cơ ức đòn chũm hay khối u mỡ cạnh cổ. Nếu bướu giáp không hoặc ít di động theo nhịp nuốt thì nghi ngờ viêm giáp xơ hóa Riedel hoặc ung thư giáp do mô xơ hay thâm nhiễm vào các cấu trúc lân cận.

Quan sát vùng da cổ phía trên bướu giáp để phát hiện hội chứng viêm: sưng, đỏ, nóng, đau trong viêm giáp cấp sinh mủ hay sưng đau trong viêm giáp DeQuervain.

Rối loạn chức năng tuyến giáp
Nhìn bướu giáp để phát hiện hội chứng viêm: sưng, đỏ, nóng

4.1.2 Kỹ thuật

Bệnh nhân ở tư thế ngồi, bộc lộ vùng cổ và thực hiện động tác nuốt bằng cách uống vài ngụm nước nhỏ.

4.2 Sờ bướu giáp

Mục đích: Xác định các đặc điểm, tính chất bướu giáp mạch bằng cách khám rung miêu và khám lại các hạch vùng. Có 2 kỹ thuật sờ: khám phía trước và khám phía sau.

  • Khám phía sau: Bệnh nhân ngồi trên ghế, bác sĩ đứng phía sau bệnh nhân và khám bướu giáp bằng các ngón 2,3,4 (hoặc ngón 2,3) của 2 bàn tay. Một tay cố định tuyến giáp, tay còn lại khám tuyến giáp, không khám hai tay cùng lúc. Ngón cái có thể đặt phía sau cổ bệnh nhân, các ngón 2,3,4 di động từ ngoài vào trong, từ dưới lên trên và từ trên xuống dưới để xác định ranh giới bướu giáp, tính chất lan tỏa hay nhân giáp và mật độ tuyến giáp.
  • Khám phía trước: Bệnh nhân ngồi trên ghế, thầy thuốc dùng ngón cái để khám, các ngón 2,3,4 cũng có thể được dùng trong trường hợp khám từng thùy tuyến giáp. Bác sĩ sẽ xác định lại tính chất của từng thùy tuyến giáp, kết hợp thêm khám hạch vùng và tìm rung miêu.

Sờ tuyến giáp để đánh giá các đặc điểm sau:

  • Hình dạng: tuyến giáp to lan tỏa hay có nhân (một hay nhiều nhân). Nếu có nhân, mô tả vị trí, kích thước, mật độ, giới hạn, di động, có đau khi sờ hay không.
  • Kích thước: ước tính kích thước tuyến giáp, bệnh nhân có tuyến giáp lớn gợi ý bướu giáp thòng.
  • Mật độ: mềm gặp trong bướu giáp đơn thuần, chắc trong viêm giáp, cứng trong viêm giáp Riedel hay ung thư giáp.
  • Đau khi sờ: có thể là do viêm giáp (cấp hay bán cấp) hay do nang giáp xuất huyết.
hormon tuyến cận giáp
Sờ tuyến giáp để đánh giá kích thước tuyến giáp

4.3 Nghe bướu giáp

Mục đích: Xác định bướu giáp mạch (bằng cách nghe được âm thổi trên bướu giáp). Bướu giáp mạch có thể gặp trong bệnh Basedow hay bướu giáp khổng lồ.

  • Bệnh nhân ngồi trên ghế, bác sĩ đứng bên cạnh hay ngồi đối diện. Bác sĩ tiến hành nghe từ đáy tim lên để loại trừ các âm thổi trong bệnh lý van động mạch chủ (hẹp van động mạch chủ).
  • Sau đó nghe tại tuyến giáp tại 2 cực trên và 2 cực dưới nơi động mạch giáp trên và giáp dưới đổ vào. Nếu không nghe âm thổi hay nghi ngờ thì bác sĩ sẽ cho bệnh nhân nín thở để loại trừ các tạp âm đường hô hấp.
  • Một số trường hợp đặc biệt có thể nghe ở tư thế nằm: bệnh nhân nằm ngửa trên giường, bộc lộ vùng cổ (không nằm gối). Tư thế này dễ phát hiện âm thổi hơn khi nghe ở tư thế ngồi do loại bỏ yếu tố trọng lực. K Thì âm thổi (tâm thu hay liên tục)

4.4 Nghiệm pháp Pemberton

Chỉ định khi có nghi ngờ bướu giáp chìm sau xương ức hoặc bệnh nhân có triệu chứng phù áo khoác hay tuần hoàn bàng hệ vùng cổ vai.

Bệnh nhân ngồi trên ghế hay đứng, bác sĩ đứng trước mặt bệnh nhân. yêu cầu bệnh nhân giơ 2 tay thẳng lên khỏi đầu, lòng bàn tay hướng vào nhau, cánh tay ép sát vào mang tai, hít thật sâu rồi nín thở.

Bác sĩ sẽ quan sát vẻ mặt bệnh nhân, nếu nghiệm pháp Pemberton dương tính sẽ thấy mặt bệnh nhân đỏ bừng và bệnh nhân có thể chóng mặt, choáng váng, chứng tỏ có khối choán chỗ trung thất trên (bướu giáp chìm, u tuyến ức, hạch phì đại…)

Tuyến giáp là tuyến nội tiết lớn của cơ thể, có thể thăm khám được. Thông qua thăm khám kỹ lưỡng bác sĩ sẽ định hướng được tình trạng của bệnh nhân nhờ đó đưa ra chẩn đoán và điều trị đúng đắn, kịp thời.